Trang chủ > Lịch sử > Kinh dịch: Chương 8

Kinh dịch: Chương 8

Chương 8. So sánh hai Kinh Dịch.

Đến đây, chúng ta hoàn toàn tìm thấy hầu hết các lời giải logic cho những nghi án Kinh Dịch. Kinh Dịch là của người Việt Nam và người Trung Hoa biết điều đó. Với âm mưu đồng hóa và triệt diệt văn hoá Việt, người Trung Hoa đã bắt, giết hầu hết các trí sỹ Việt. Và cuối cùng, dân tộc làm ra Kinh Dịch không còn người hiểu được những nguyên lý Dịch truyền thống. Nhưng ánh sáng chân lý vẫn soi thấu qua màn đêm

lịch sử. Với các huyền thoại họ thêu dệt vào Kinh Dịch của họ cộng thêm cái Hậu Thiên Bát Quái luộm thuộm, họ đã tự làm lộ tẩy mình. Vì họ không có cội rễ nên họ không hiểu các đồ hình đó nói cái gì, làm từ đâu, tính toán thế nào nên họ bịa ra những nguyên tắc lố bịch, lủng củng, không nhất quán. Để cuối cùng luận ra một cái Hậu Thiên sai bét!!! Chúng ta hãy cùng nhau so sánh logic của hai Kinh Dịch.

1. Khởi thuỷ của Dịch:

Dịch Trung Hoa: Long mã chứa Hà Đồ. Không có con Long Mã như thế. Sự quyết đoán của người Trung Hoa về con Long Mã tưởng tượng này theo logic có thể suy ra, người Trung Hoa bằng cách nào đó đã có một tấm đồ hình được vẽ trên da một con gì dưới nước có những vảy đặc biệt. Hay nói cách khác, họ đã có được một tấm đồ hình Hà Đồ được vẽ trên da cá sấu. Còn cách nào họ có ta phải xét xem hệ quả nào người Trung Hoa rút ra từ đó. Có hai suy luận logic sau:

a. Chính người Trung Hoa vẽ ra nó. Vậy người Trung Hoa phải vẽ ra đầu tiên và họ phải tường tận hiểu nó dùng để làm gì.

b. Người khác vẽ ra nó và người Trung Hoa chiếm đoạt được. Nếu như vậy, đó là sắc dân nào, bằng chứng nào chỉ ra dân tộc này có trong tay Hà Đồ. Và bằng chứng nào chỉ ra họ hiểu nó tường tận?

Dịch Việt (Diệc): Con cóc. Qua các quan sát tự nhiên lúc trời mưa. Hay tưởng tượng bằng trí tuệ thấy mình cóc có chứa sao Bắc Đẩu-7 sao. Không cần huyền bí hoá, bởi vì đây chỉ là bước khởi đầu. Quan trọng các bước sau phải hợp logic với bước đầu.

Vậy, về khởi thuỷ của Dịch của người Trung Hoa và người Việt Nam đã có nhiều khác biệt. Nhu cầu huyền bí hoá Kinh Dịch của người Trung Hoa đã vô tình cho chúng ta thấy có gì đó không ổn. Và nếu ta chứng minh, cái Hà đồ chẳng ăn nhập gì với hệ quả người Trung Hoa rút ra thì rõ ràng câu chuyện long mã là chuyện bịa để che giấu việc đạo tư tưởng của người khác.

2. Đốm xoáy trên lưng Long Mã:

Dịch Trung Hoa: có nói đến xoáy nhưng chỉ coi như một thành phần của con Long Mã tưởng tượng. Hoàn toàn không thể giải thích nỗi vì sao lại có đốm xoáy trên lưng con vật dưới nước. Hoàn toàn không đề cập đến nội dung của đốm xoáy có dính dáng đến Dịch.

Dịch Việt Nam: Đốm xoáy trên lưng năm con heo con trong bức tranh Đông Hồ nổi tiếng “Đàn lợn” cùng với hình Thái Cực trên lưng heo mẹ đã cho chúng ta thấy sự liên hệ mật thiết giữa đốm xoáy với Dịch. Thời hậu thiên đã hình thành sự phân cực và phân hành sâu sắc và dấu ấn của Thái Cực lên muôn loài là các đốm xoáy: các đốm xoáy có tính Nòng Nọc khác nhau có chiều vận động ngược nhau và đã tách ra riêng rẽ. Đối lại với Thái cực hai nghi Nòng Nọc tuy đối nghịch nhau có chiều vận động ngược nhau nhưng lại cùng vận động trong một thể thống nhất, hài hòa. Các đốm xoáy trên lưng các con heo con đó đã giải quyết hoàn toàn nghi án truyền thuyết Phục Hy thấy con Long mã: Bằng cách nào đó người Trung Hoa(có thể do họ được tặng) có được bức đồ hình sau này được đặt tên là Hà Đồ được vẽ trên da cá sấu. Đồ hình đó gồm các đốm xoáy có chứa các khuyên tròn tạo thành từng cặp 1-6, 2-7, 3-8, 4-9, 5-10. Và thông điệp Hà đồ với đốm xoáy là thông điệp Hậu Thiên Bát quái mô tả thời vũ trụ đã hình thành với quá trình phân cực thành những vật thể mang tính Nòng và những vật thể mang tính Nọc đồng thời với quá trình phân hành thành những vật mang hành khác nhau trong ngũ hành. Nói cách khác Hà đồ và đốm xoáy chuyển tải triết lý vạn vật được tạo thành từ hai nguyên khí và phân loại thành năm hành thể.

3. Hai nghi hay hai bản thể của mẹ vũ trụ:

Dịch Trung Hoa: Ông Phục Hy, khi nhìn thấy Hà đồ, đã sáng tác ra hai nghi: Âm Dương. Và chính ông vạch ra hai biểu tượng của chúng. Vô lý! Về logic Hà đồ phức tạp hơn hai nghi. Có hai chiều ngược nhau: Từ Hà Đồ xây dựng nên hai nghi và từ hai nghi dẫn dắt đến Hà Đồ bằng suy luận logic. Chứng minh sự vô lý của cách suy luận từ Hà Đồ sang hai nghi không có gì bằng cách chứng minh cả một con đường logic đi từ hai nghi đến Hà Đồ. Hơn nữa, hành trình logic từ Hà Đồ sang Âm, Dương bị khuyết một mắc xích: ít ra trong Dịch Trung Hoa, người ta đã có lúc nào đó dùng một vòng tròn chỉ nghi Dương và hai vòng tròn chỉ nghi Âm. Sau đó, họ giản lược lại thành các vạch như bây giờ. Ngoài ra, khi đặt Âm Dương làm hai nghi của Thái Cực, họ không hề đặt vấn đề lượng số ra. Họ chỉ cho ra ý nghĩa triết học của nó là hai thể thể đối kháng nhau trong một tổng thể thống nhất. Điều này dẫn đến họ không tính toán theo logic số học nhị phân. Không hiểu nguyên tắc nhị phân số học này của hai bản thể nên họ vô cùng lúng túng không hiểu giải thích vì sao chẵn lại thuộc Âm mà lẻ lại thuộc Dương. Và cũng chính vì thế, khi luận Hậu Thiên Bát Quái họ đã làm hết sai lầm này đến sai lầm khác.

Dịch Việt: Hai con nòng nọc là con của cóc mà cóc là bản thể của mẹ vũ trụ ở trái đất nên nòng và nọc là hai nghi của mẹ vũ trụ. Hình thành hệ nhị nguyên và tính bằng số học thuần tuý. Với Nòng=0 và Nọc=1. Số tồn tại đầu tiên và số trống rỗng đầu tiên.

4. Chẵn-Âm, Lẻ-Dương:

Người Trung Hoa rất mập mờ khi nói về vấn đề này. Trong khi bằng số học thuần tuý, với nguyên tắc “chia số theo hai vòng tròn một, cái cuối cùng là nọc thì số đó là nọc và nếu không còn gì để chia (hay cái cuối cùng còn lại là nòng) thì số đó là nòng”, người Việt rút ra số lẻ-nọc, chẵn nòng. Dĩ nhiên, lúc chứng minh điều này thì cần phải có cả hệ thống bằng chứng. Ví dụ, như các đồ hình 3-3—4-4 và các Hà Đồ, các Hậu Thiên Bát Quái trên trống đồng nhận được đúng với logic chặt chẽ của ta đặt ra.

5. Số không:

Không thấy bóng dáng số không trong nền tảng Kinh Dịch Trung Hoa. Chính vì thế họ không thấy rõ logic số học thuần tuý của hệ nhị phân. Trong Kinh Diệc Việt Nam, số không quan trọng vì nó là số của Khôn qua hệ nhị phân. Trong nhiều trường hợp, người ta hay dùng số không để biểu thị tính nòng. Đó là cách dùng khôn khéo để cho mọi người biết có số không tồn tại và số 8 cũng chính là 0 qua mod 8.

6. Mod:

Trong kinh Dịch Trung Hoa có một ít ám chỉ đến mod 9. Tuy nhiên, ở đây cũng chỉ dừng lại ở ám chỉ. Không có cách giải thích nào rõ ràng cả. Dịch VN hầu hết đề cập đến mod 8. Điều đó khá dễ hiểu vì chỉ có 8 bát quái còn các số thì nhiều. Lượng số của các quái chỉ từ 0..7, chính vì thế nhiều khi họ phải biểu thị 0=Khôn=8 mod 8. Bởi vì nếu không biểu thị gì cả thì không ai hiểu đó là số không hay đơn giản người ta tính tiếp các chi tiết khác. Nhiều khi, có tính mod 14, với ý nghĩa ký hiệu tổng quát cho Hậu Thiên và Tiên Thiên. Hậu Thiên lấy số 14 làm trọng vì nó có tổng các số của mỗi phần Trời Đất là 14. Mà Hậu Thiên thuộc chuyện vũ trụ sau khi hình thành nên nó có tính Âm, còn Tiên Thiên có tính Dương. Ở đây, cần thấy rõ tư tưởng của các triết gia Việt Nam xưa. Tiên Thiên chỉ giới hạn ở bát quái có hình Thái Cực Đồ-đó là 1 số lẻ chưa tách rời. Còn Hậu Thiên là vũ trụ đã thành hình nên các quái của nó đã phân và chung cuộc chúng có đến 64 trùng quái thuộc Nòng. Vì thế, khi lấy số 14 ký hiệu Hậu Thiên thuộc Nòng lớn nhất, mà Nòng lớn nhất giống như trường hợp bát quái bằng 0. Vậy Hậu Thiên =14=0(mod 14). Còn Tiên Thiên là Nọc lớn nhất, chỉ có hai Bát quái nên Tiên Thiên=15=1(mod 14). Và người Việt cổ cũng có dùng mod 4, nhưng cũng như trên chỉ dùng cho Tứ Tượng, bằng chứng là đồ hình 3-3—4-4. Như vậy, ta thấy khi dùng mod, người Việt cổ đã tính toán cẩn thận: mod nào dùng ở đâu mới hữu lý. Và luôn luôn chiếu theo logic toán học thống nhất.

7. Chiều chuẩn:

Kinh Dịch Trung Hoa không chỉ ra tại sao có chiều ngược kim đồng hồ. Trong khi, nếu dựa trên trống đồng Việt Nam thì ta thấy tất cả các hướng bay của chim Diệc (chim phượng hoàng) đều chỉ hướng ngược kim đồng hồ. Có các ám chỉ cóc mang tượng sao Bắc Đẩu=7 sao=Càn. Và nếu ta tưởng tượng một người đứng nhìn lên trời về hướng Bắc (hướng sao Bắc Đẩu) và thấy mặt trời chuyển từ Đông sang Tây thì cũng dễ hiểu vì sao có chiều vận động như vậy. Điều này, chứng tỏ người Việt cổ có những chiêm nghiệm thiên văn khá thành thục.

8. Tứ tượng:

Thật là logic khi nói, nếu đã biết được hai bản thể của vũ trụ (gồm cả định nghĩa và ký hiệu) thì người xưa, dù người Hoa Hạ hay người Diệc, đều có ý muốn sắp xếp chúng thành hai hay ba lớp. Người Trung Hoa có sắp xếp nó nhưng lại ít hiểu đến lượng số của nó, còn người Diệc có sắp xếp nó nhưng với một logic số học chặt chẽ. Điều đó được chứng minh bởi mã 3-3—4-4. Bởi rằng 3 là số của hai Nọc còn 4=0(mod 4) là số của hai Nòng. Đến đây, chúng ta có thể thấy họ không dùng mod tuỳ tiện mà dùng cơ số của mod có tính toán theo lớp (ví dụ Tứ Tượng chỉ có 4 nên dùng mod 4, còn nói đến bát quái có 8 quái thì dùng mod 8, còn nói đến Hậu Thiên có linh số là 14 thì dùng mod 14.). Ngoài ra, có rất nhiều trống đồng Việt Nam ám chỉ Tứ Tượng bằng hình thể (4 cóc) và cả bằng hình thể lẫn số ẩn, lẫn tượng ẩn. Ví dụ như trống Ngọc Lũ có hai số mã của Tứ Tượng là 6-8, tang trống có tượng là các hình người chẵn lẻ mang tính Nòng Nọc.

9. Tiên Thiên Bát Quái:

Cũng như Tứ Tượng khi sắp xếp được Tứ Tượng thì người xưa lại tìm cách sắp xếp bát quái-kết quả sự chồng lên nhau của ba lớp nhị thể (23=8). Tuy nhiên, tính số học của Tiên Thiên không bao giờ được nhắc đến ở trong Kinh Dịch Trung Hoa. Đầu tiên chúng ta hãy sắp xếp theo thứ tự từ Càn cho đến Chấn. Còn vòng bên kia thì sao? Vì chúng ta có thể sắp xếp theo số từ 7-0 theo chiều chuẩn hay sắp xếp như Tiên Thiên bây giờ. Quan trọng nếu đã xếp theo cách bây giờ thì phải có cách giải thích vì sao. Sách Trung Hoa chỉ nêu lên là tổng các độ số của hai quái đối diện phải bằng 9?!! Cứ như trên trời rơi xuống số 9 này. Nếu Tiên Thiên bắt nguồn từ Hà Đồ vậy số 9 ở cụm 9-4 tại sao không biểu thị cho Càn? Đó là bằng chứng xác đáng nhất chứng minh họ chẳng hiểu từ cội rễ. Còn nguyên tắc lập nên Tiên Thiên của Dịch Việt Nam hoàn toàn theo quy trình logic chặt chẽ. Với Tiên Thiên là biểu tượng Thái Cực Đồ; mà Càn=7 mang tính Nọc nhất, trùng với sao Bắc Đẩu, tượng trưng cho Trời, còn Trời thì ám chỉ Thái Cực vì thế tống các số đối xứng qua tâm phải bằng 7. Chính vì thế, trong bất cứ trống đồng nào cũng đều chứa Mặt trời ở giữa. Từ đó khi lập được chiều Nọc là Càn-Đoài-Ly-Chấn thì người ta cũng lập ra được hình bát quái sau: Càn-Đoài-Ly-Chấn-Khôn-Cấn-Khảm-Tốn. Ta thấy sự khác hẳn nhau của phương pháp lập Tiên Thiên của người Trung Hoa. Từ Hà Đồ làm ra Tiên Thiên, nhưng chả thấy một logic nào chỉ ra cái quan hệ giữa chúng với nhau. Cách sắp xếp cũng không giải thích từ đâu. Sau đó đặt độ số cho các quái (tức độ số được làm sau Tiên Thiên). Cuối cùng lấy chính cái độ số làm sau này lại giải nghĩa ngược lại cho Tiên Thiên (là cái làm ra trước). Vậy có người làm ra bát quái CànLy ChấnTốnĐoàiKhảmCấnKhôn, sau đó đánh số Càn-1, Ly-2, Chấn-3, Tốn-4, Đoài-5, Khảm-6, Cấn-7, Khôn-8. Rồi anh ta cũng bảo đó tổng các độ số đều bằng 9 thì ngài Phục Hy làm sao cãi nhau với anh ta. Cái thứ tự của Tiên Thiên phải có bản chất từ các quái. Mà đóng vai trò tính chất của các quái không có gì tốt hơn bản chất số của nó (tính qua nhị phân. Vẽ NòngNọcNòng thì chắc chắn quái đó bằng 2.).

Số 9 từ trên trời rơi xuống của Dịch Trung Hoa chỉ chứng minh là họ đã nhìn đâu đó đồ hình Tiên Thiên và Nòng Nọc, họ chữa đổi thành Âm Dương sau đó cải biên và cố giải thích cho nó đúng theo một logic nào đó. Tuy nhiên, logic 9 không có một ý nghĩa gì cả; còn logic 7 lại hợp hoàn toàn với quan niệm thờ Mặt Trời của các cư dân cổ đại. Đây cũng cho thấy câu chuyện Long Mã-Hà-Đồ-Âm Dương-Tiên Thiên của người Trung Hoa chả ăn nhập gì với nhau và là sản phẩm của Thấy-Cải biên-Bịa truyền thuyết-Và Past nguyên bản chính có chút xíu cải biên.

10. Số và độ số:

Người Trung Hoa khi nhận được Tiên Thiên họ đã đánh số nó như thế này: Càn-1, Đoài-2, Ly-3, Chấn-4, Tốn-5, Khảm-6, Cấn-7, Khôn-8. Không có gì sai trái trong việc đánh dấu này cả. Đánh dấu kiểu gì cũng được, điều quan trọng là dùng nó trong mục đích nào. Vì không hề đặt ra vấn đề số của Âm Dương nên họ không có một logic chung cho cả Tiên Thiên và Hậu Thiên. Logic này bắt buộc phải có bởi vì không thể nào mẹ lại khác xa con. Hay con hơi giống mẹ có những đặc tố của mẹ nhưng lại phải có các nét của con riêng. Còn người Diệc, trong các trống đồng Ngọc Lũ và Sông Đà đã cho ta thấy rõ tính số của các quái. Đó là Càn=7 (Trời, sao Bắc Đẩu), Đoài=6, Ly=5, Chấn=4, Tốn=3, Khảm=2, Cấn=1, Khôn=0=8(mod 8). Các cách tính số này xuyên suốt trong các trống đồng: ví dụ trường hợp Tứ Tượng, trường hợp cặp số 18-16 chỉ Khảm chủ tế và vòng vận động uyên nguyên Đất-Nước của Hậu Thiên. Khi không có gốc từ Nòng Nọc (gốc số 0,1) thì người Trung Hoa bắt đầu vào vòng lẩn quẩn. Muốn hiển thị sao cho Hậu Thiên có đặc tố của Tiên Thiên thì cứ phang bừa các độ số. Sau đó, từ các độ số này để tìm ra Hậu Thiên với những điều kiện lủng ca lủng củng. Bởi vì đi từ độ số sai thì có gò ép cũng không gò ép nỗi. Có giỏi như ngài Văn Vương cũng phải bó tay đành viện Lão Âm với Lão Dương. Còn như chúng tôi đã phân tích ở chương trên, nếu dùng số của quái thì không có gì vô lý khi vẽ ra Hậu Thiên đúng đắn, hợp logic. Đến đây, chúng tôi có cảm giác người Trung Hoa đã thấy trong vài đồ hình nào đó(của người khác) có ký hiệu của Khôn là 8. Thực ra, người này muốn biểu thị số 0 nhưng qua 8=0(mod 8)(ví dụ trong trống đồng Sông Đà), nhưng vì họ không thể vẽ số 0, bởi vì hiển thị số “không” nhiều khi là không vẽ nhóm nào đó. Nhưng nếu không vẽ nhóm đó thì bị khập khiễng bởi vì lúc đó bát quái chỉ có 7 quái hay 9 quái (+2 cụm đối xứng nữa). Rồi lại nghĩ Càn gần với Thái Cực nhất nên người Trung Hoa nghĩ bắt đầu phải từ Càn đến Khôn là từ 1 cho đến 8 và đã làm nên bảng độ số buồn cười trên.

11. Chữ S và chiều của hai Nghi:

Dịch Trung Hoa chưa hề đặt vấn đề chữ S và chiều của hai nghi. Trong khi chữ S được hiển thị ít ra trên hai trống đồng: trống đồng Đông Sơn và Phú Xuyên. Chữ S cũng rất quan trọng cho việc chứng minh nền tảng Âm Dương và nền tảng Nọc Nòng khác hẳn nhau. Nền tảng Nọc Nòng thì khi vẽ một đường nối các số (tức quái) với nhau từ 7 đến 0 thì ta được chữ S. Và các số cách nhau là 1. Còn nền tảng Âm Dương không thể như vậy, vì dụ lý luận dương lớn nhất = 4 thì âm lớn nhất bằng -4. Vậy bên phần Dương lẫn phần Âm các quái có số lệch bằng 1 nhưng từ Dương qua Âm lại lệch 2!!! Mất tương xứng và cân đối.

12. Thái Cực đồ:

Thái cực đồ Trung Hoa không diễn tả được hết tính lượng số hay % Âm Dương của các quái trong Thái Cực. Chúng được vẽ ra để có vẽ không mang hình dáng của hai thể của nó. Lại chua thêm hai vòng tròn ở giữa không để làm gì cả càng làm cho ta cảm thấy nghi ngờ. Nghi ngờ nó đẹp quá so với cái bản thật ban đầu. Sự trau chuốt trong Thái Cực đồ bỏ qua tính lượng số của nó chỉ có thể do người sau làm ra và người này cũng không hiểu tính chất số của Thái Cực Đồ. Nếu nói trong Âm có Dương cần phải chua thêm hai vòng tròn chúng tôi cho rằng khá khiên cưỡng. Bởi vì khi nhận thấy Thái Cực Đồ là tổng thể của hai bản thể đối kháng nhau, thì hai bản thể này là hai nguyên tử xây nên Thái Cực. Nó phải rạch ròi, thuần chủng mới toát lên triết lý tuy hai mà một tuy một mà hai. Còn vì sao trong Âm có Dương thì lại khác. Hai lưỡng nghi là hai bản thể của Thái Cực, chúng xoắn lấy nhau trong một vòng ôm uyển chuyển không tách rời. Nhưng các sản phẩm của chúng như Tứ Tượng, Bát Quái lại mang tính trong Âm có Dương, trong Dương có Âm. Không có Tứ Tượng và Bát Quái nào tuyệt đối Âm hay tuyệt đối Dương. Thái cực đồ Việt Nam trong tranh Đông Hồ đã thể hiện tính số rất tuyệt vời đồng thời cũng mang hình dáng của các con của nó. Đúng như logic khởi thuỷ là Cóc-Nòng Nọc. Vừa mang tính thuần nghi, lại có tính không có gì tuyệt đối của các sản phẩm.

13. Trùng quái:

Việc trùng quái rất có thể xảy ra ngay từ lúc có Tiên Thiên Bát Quái. Vì việc chồng các lớp lên nhau là việc làm khá dễ hiểu và rất tự nhiên. Thậm chí, rất tự nhiên đối với việc sắp xếp số bởi 4 hay 5 lớp nhị thể. Người Trung Hoa có thể nghĩ như vậy, người Việt Nam cũng có thể làm như vậy. Hoàn toàn không có gì phức tạp và uyên bác ở đây cả. Nhưng chính ở đây cho thấy người Trung Hoa không có ý tưởng số học của quái. Trong khi người Diệc đã không ít lần ghi số 18, 16, 45, 36. Có những số mang 4 lớp, 5 lớp nhưng vẫn ngụ ý thành 6 lớp để cho ra Thuần Khảm, KhảmKhôn, Thuần Chấn….Người Trung Hoa không biết điều đó chỉ biết chồng đè chúng lên nhau. Trùng quái nếu được xây dựng từ Tiên Thiên sẽ ra cái gì? Không ra cái gì cả ngoài cái Tiên Thiên Bát Quái có quy mô to hơn. Vậy ý nghĩa trùng quái có được khi diễn tả các vấn đề Hậu Thiên. Ý nghĩa vật lý ở đây khá rõ: nguyên tử xây dựng nên Tiên Thiên hay Thái Cực Đồ là hai Nghi. Chúng hình thành nên các quái là các phân tử gắn liền nhau không tách rời của Thái Cực Đồ. Tuy nhiên đến khi vũ trụ hình thành thì các phần tử này chính là những nguyên tử tạo nên vũ trụ. Hay nói cách khác các quái chính là nguyên tử tạo nên mọi vật của vũ trụ đã thành hình. Dịch Trung Hoa rất mơ hồ khi giải thích sự liên quan mật thiết giữa trùng quái và Hậu Thiên. Còn nếu giải thích bằng nguyên tắc số học thêm các điều kiện nhất định thì chúng ta nhận được một Bát Quái duy nhất. Như trong trường hợp Dịch Việt Nam. Hậu Thiên có được do các quái của Tiên Thiên chồng lên nhau (hay tương tác nhau) nên nó mang ý nghĩa của trùng quái. Nhưng vì đồ hình chỉ có 8 quái nên người xưa làm nên đồ hình Hậu Thiên sao cho mang ý nghĩa trùng quái theo trật tự Tiên Thiên cao nhất. Giống như chúng tôi đã phân tích ở chương trên.

14. Khảm bắt đầu:

Kinh Dịch Trung Hoa chỉ đưa ra câu: đầu tiên có nước. Lại như trên trời rơi xuống. Đành rằng có thể đó là triết lý của họ. Nhưng ít ra trong rất nhiều cổ vật họ hay trong nhiều truyền thuyết của họ cho thấy người Trung Hoa cổ yêu nước. Còn như trong hệ thống truyền thuyết lẫn các cổ vật của các cư dân Việt cổ đều chỉ ra cho ta thấy việc sùng bái nước của người Việt Nam. Đặc biệt nhất là số 18 chỉ cho thấy tính sùng Nước lẫn tính trùng quái trong vấn đề Hậu Thiên.

15. Hà Đồ và Lạc Thư:

Câu chuyện về Hà Đồ và Lạc Thư quả là bi kịch cho Kinh Dịch Trung Hoa. Về mặt toán học thuần tuý, hai đồ hình này đều có thể dùng để luận Hậu Thiên. Thế nhưng, người Trung Hoa hoàn toàn sai lầm khi họ cho rằng từ Hà Đồ có thể suy ra Tiên Thiên. Họ không hề chỉ ra logic nào để từ Hà Đồ mà suy luận ra Tiên Thiên. Còn câu chuyện Lạc Thư với tổng các giá trị hàng ngang, hàng dọc, hàng chéo đều bằng 15 cùng với độ số nhầm lẫn đã làm người Trung Hoa đưa ra logic lủng củng để dựng nên Hậu Thiên với những lý giải luộm thuộm như ở chương “Nghi án Kinh Dịch” mà chúng tôi đã phân tích. Còn nếu theo Dịch Việt Nam thì thật rõ ràng. Tiên Thiên được xây dựng không phải từ Hà Đồ. Nó được xây dựng nên bởi lý luận logic đơn giản: một nghi Nọc được vẽ theo chiều chuẩn Càn-Đoài-Ly-Chấn, còn nghi còn lại được xây dựng sao cho tổng các số đều bằng 7-tượng trưng cho Bắc Đẩu, cho Càn, cho Trời. Còn Hậu Thiên cũng không cần xây dựng từ Hà Đồ. Nó được xây dựng trên cơ sở Trùng Quái với sự vận hành giống Tiên Thiên của các trùng quái đối xứng. Dĩ nhiên với các điều kiện nhất định, các điều kiện này cũng được thể hiện qua triết lý sống của người Việt như Khảm bắt đầu. Thật ra, với nguyên tắc trùng quái-tức nguyên tắc Hậu Thiên hình thành phải từ sự giao lưu giữa các quái-các phân tử của Tiên Thiên là trọng tâm để xây nên Hậu Thiên. Vì rằng, như đã chứng minh trên, nếu không kể Khảm bắt đầu thì ta có thể xây dựng được một Bát Quái giống hệt Hậu Thiên Lạc Việt. Còn Khảm bắt đầu chỉ cho ta định vị địa điểm của Khảm ở cung Bắc mà thôi. Người Trung Hoa hay làm rất lạ là cứ lấy cái phức tạp để suy ra cái đơn giản. Muốn biết 23 bằng bao nhiêu đầu tiên phải biết định nghĩa của luỹ thừa đã chứ. Mà muốn có định nghĩa luỹ thừa thì phải biết phép nhân đã chứ. Rồi muốn biết phép nhân phải biết phép cộng đã chứ…Hà Đồ được xây dựng bằng các số thập phân để số hoá Hậu Thiên. Những ưu điểm của nó đối với Lạc Thư chúng tôi đã phân tích ở trên. Ngoài ra, chúng tôi đã phân tích có thể từ Hậu Thiên mà suy ra Hà Đồ cũng có thể từ Hà Đồ suy ra Hậu Thiên. Bởi vì Hà Đồ nó hợp với Hậu Thiên quá, hay chúng hợp với nhau như hai vế khẳng định tương đương vậy. Việc số hoá cũng được chứng minh qua sở thích suy luận logic bằng số học của cư dân Việt cổ. Như việc lấy số của các quái làm chuẩn, việc mã hoá Tứ Tượng-Tiên Thiên bằng cặp 3-3—4-4. Đó đã chứng minh một quy trình số luận xuyên suốt từ đầu chí cuối của Kinh Dịch Việt. Những suy luận sai lầm của người Trung Hoa đã vô hình chung chỉ ra việc họ đã thấy đâu đấy các đồ hình, không hiểu chúng từ cội rễ họ bịa ra những truyền thuyết và nguyên lý tính toán lủng củng và cuối cùng là past lại. Trường hợp Hậu Thiên quả là bi kịch cho họ, vì rằng khi có (bằng cách nào đó) đồ hình mã hoá Hậu Thiên-Hà Đồ và khi được giải thích qua loa các nguyên tắc tính toán (của một trí sỹ bị bắt nào đó hay của một ông sứ nào đó. Mà vì là sứ và trí sỹ của nước khác nên các vị này đã giải thích qua loa, không cặn kẽ. Họ không dại gì giải thích cặn kẽ bởi vì Hậu Thiên Bát Quái là cái tiền đề quan trọng để chiêm nghiệm thiên văn và vũ trụ.), người Trung Hoa đã cố công xây dựng lại Hậu Thiên Bát Quái. Nhưng họ đã không thành công vì đã không chú ý đến ý tưởng trùng quái trong đồ hình Hà Đồ.

16. Nam tả nữ hữu:

Với trống đồng có vẽ Mặt Trời ở trong thì Hà Đồ tuy mang sắc thái từng cặp số nhưng có ngụ ý phân bố vị trí tương đối của hai số Chẵn và Lẻ. Từ đó cho ra đồ hình Hà Đồ vuông có thể luận ra Hậu Thiên. Chính vì thế mà triết lý Nam tả Nữ hữu đã in sâu đậm vào văn hoá Việt. Còn đối với dân tộc Trung hoa rất ghét “lề thói Man Di” thì thật tình không hiểu nỗi vì sao Lạc Thư lại có phong cách giống Hà Đồ vuông? Mặc dù, nếu chọn trục 1-7 là trục Bắc Nam thì có hai đồ hình mang tính chất của Lạc Thư.

17. Hậu Thiên Bát Quái:

Dịch Trung Hoa cho rằng Hậu Thiên Bát Quái được xây dựng từ Lạc Thư. Còn Dịch Việt: Hậu Thiên Bát Quái được mã hoá bằng Hà Đồ. Tất cả ưu khuyết điểm của hai cách luận này chúng tôi đã viết trên. Logic lý luận tổng các độ số=6 qua mod 9 và chỉ chừa mỗi trục Khảm-Ly=9 không thoả đáng. Lủng củng, luộm thuộm, không nhất quán. Trong khi logic làm sao bằng 8 quái có thể ghi lại sự vận động như Tiên Thiên Trùng Quái (giống Tiên Thiên vì nó cũng đi từ Trùng quái to nhất đến trùng quái nhỏ nhất theo chữ S thiêng liêng. Và tổng số (không phải độ số) của hai quái đối diện cũng phải bằng 7 (nguyên tắc con giống mẹ. Ở trên tôi đã chứng minh bằng đối xứng chỉ có các bát quái thuộc nhóm F1,8 là có tính đối xứng cao và giống nhau các loại đối xứng lẫn các chi tiết đối xứng).) đã chứng minh ưu điểm tuyệt đối của nó trong lý luận logic. Khi đặt ra bài toán trên, ngài Văn Vương đã chọn bừa một bát quái (chắc ông ta thích nó lắm). Trong khi đáp án có đến 24 bát quái như thế. Còn trong Dịch Việt với lý luận logic toán học chặt chẽ-chứ không phải những giải thích rắm rối-không hiểu từ đâu ra, ta có thể tìm ngay ra một bát quái thoả mãn theo quy luật số. Trong cả một quy trình xây dựng lý thuyết nào đó, điều quan trọng người ta phải bám theo các tiên đề khởi thuỷ của nó. Dịch Trung Hoa đùng một cái từ cái phức tạp như Hà Đồ họ suy ra cái quá đơn giản như Tiên Thiên. Sau đó, không cần đếm xỉa gì đến những phát minh trước, hay tiên đề ban đầu, họ đùng một cái bê ngay Lạc Thư vào để tính Hậu Thiên. Thế có một ngài khác cũng lấy một đồ hình số quan trọng khác rồi cũng đưa tư tưởng quái với các độ số quái dị vào để tính Bát Quái Hậu Thiên thì ngài Văn Vương sẽ tranh luận ra sao với ông ta. Chả nhẽ cứ cãi xoay cuồng là đồ hình của tôi đẹp hơn của ông. Để hiểu tính khập khiễng không nhất quán của lý thuyết xây dựng Hậu Thiên Văn Vương chúng ta xem lại bảng so sánh sau:

Hậu Thiên Bát Quái Văn Vương sau bao hồi trầm luân, qua bao nhiêu chông gai hiểm trở nhờ vào tài các thánh nhân Trung Hoa cuối cùng vẫn thành hình-dĩ nhiên không hiểu là hình gì. Kể cả thêm luôn điều kiện trời đất chia đôi vào cũng vô cùng khó mà suy ra một nghiệm duy nhất. Trong khi điều kiện đó phải là một hệ quả của sự hình thành Bát Quái Hậu Thiên. Còn Hậu Thiên Bát Quái Âu Lạc được hình thành qua một chuỗi suy luận logic toán học, đặt nền móng trên hệ nhị phân.

18. Viết quái từ trong ra:

Nếu vẽ như trống đồng, có đại diện của Thái Cực là Mặt trời ở giữa trống thì ta hoàn toàn hiểu được vì sao có cách viết từ trong ra. Vì rằng, lớp gần mặt trời phải là lớp chỉ đạo, có ý nghĩa tạo nên số của quái. Người Trung Hoa cũng có thể bảo, trong đồ hình Bát Quái của họ có ngụ ý Thái Cực ở trong. Nhưng nếu như thế thì có vẻ cái Bát Quái với mấy vạch cùng Thái Cực đồ trông giản đơn và đẹp quá. Giống như là sản phẩm của người sau. Nó hoàn toàn không phù hợp với trình độ nghệ thuật của người tiền cổ. Ít ra, nếu người Trung Hoa bảo họ vẽ đơn giản Bát Quái trên một vòng tròn có ngụ ý chứa trời bên trong thì họ cần phải trưng ra bằng chứng là trước đó (phù hợp với trình độ khắc hoạ của người xưa) họ đã có những đồ hình vừa mang tính cách khắc hoạ văn hoá vừa mang ý nghĩa Dịch như các trống đồng Việt Nam. Điều chúng tôi muốn nói đó là từ triết lý Dịch xa xưa đến Kinh Dịch hiện nay, người Trung Hoa đã thiếu một mắc xích quan trọng.

19. Trời Đất tách đôi và Mẹ tròn con vuông:

Trong Kinh Dịch Trung Hoa, “Trời đất tách đôi” đóng vai trò như một điều kiện để làm ra Hậu Thiên. Điều này thật vô lý, bởi vì khi ta vẽ được đồ hình vận động khi vũ trụ thành hình rồi thì chuyện Trời Đất tách đôi phải được suy ra từ đồ hình này. Trong khi Kinh Diệc Việt Nam, bằng số học thuần tuý để suy ra Hậu Thiên cũng chỉ ra ngay nơi nào Trời Đất tách đôi. Nhìn hình dưới, ta thấy ngay đồ hình Bát quái nếu muốn chuyển qua Đồ hình của Trùng quái ta thấy chỉ có thể có 6 trùng quái có thể thành hình. Và 2 trùng quái ở Đông và Tây không có tạo cho ta cảm tưởng các trùng quái đã di chuyển về hai phần khác nhau của vũ trụ. Phần phía Bắc ứng sao Bắc Đẩu, tượng Trời và phần ngược lại hiển nhiên mang tượng Đất. Trong nhiều trống đồng Việt Nam có vẽ 6 con chim chia thành hai cụm giống như hình dưới đây. Và cũng không cần phải đếm có bao nhiêu Nòng bao nhiêu Nọc trong từng phần Trời Đất, người ta có thể thấy ngay trong Bát Quái bộ Trùng Quái thuộc Trời gồm 4 quái hợp thành là: Càn-Khảm-Cấn-Chấn; còn bộ Trùng Quái thuộc Đất gồm 4 quái Khôn-Ly-Đoài-Tốn hợp thành. Lấy tổng của các số hai bộ Tứ Quái ta có mỗi tổng bằng 14.

Trong Kinh Dịch Trung Hoa viện dẫn Hà Đồ có hình tròn còn Lạc Thư có hình vuông nên chính vì thế Hà Đồ sinh ra Tiên Thiên còn Lạc Thư sinh ra Hậu Thiên. Quả là may mắn cho cư dân Trung Hoa xưa vì hồi đó họ chỉ có biết đến một đồ hình như Lạc Thư!!! Nếu có thêm vài đồ hình kiểu khác nữa thì họ chắc phải đau đầu mới tìm ra Hậu Thiên. May lắm thay!!! Thế nhưng, chỉ với đồ hình Lạc Thư mà họ đã lẩn quẩn mãi giữa 24 nghiệm khác nhau, cuối cùng phải chọn bừa cái Hậu Thiên Bát Quái Văn Vương. Hiển nhiên, nhờ có ngài Văn Vương dũng cảm đối đầu với thực tế và chịu trách nhiệm trước lịch sử: “Vậy đó, ta thích chọn đồ hình bởi vì ta là Thiên Tử. Thế thôi. Chấm hết. Cấm bàn.”. Giá như họ chịu khó suy nghĩ kỹ thì với 8 số Hà đồ với nguyên tắc Dương ở lại còn Âm qua hữu (dĩ nhiên theo chiều ngược kim đồng hồ) thì cũng có một cái đồ hình vuông như Lạc Thư. Vấn đề Mẹ tròn Con vuông nằm ở chỗ khác sâu sắc hơn. Đó là Thái Cực mà đại diện của nó là Tiên Thiên và con của Thái Cực là Vũ trụ với đại diện là Hậu Thiên. Trong Kinh Diệc Việt Nam ta thấy Tiên Thiên Bát Quái tạo thành bởi 8 quái nằm trên mỗi đỉnh bát giác đều. Điều này tạo cho ta cảm giác đó là hình tròn và chính vì thế người ta đã vẽ Thái Cực Đồ là hình tròn. Còn Hậu Thiên có 6 Trùng Quái tách rời ra bởi trục Đông Tây khó có thể vẽ nên hình tròn mà cách vẽ đúng hơn cả là hình vuông (hay hình chữ nhật hoặc hình ellips). Chúng tôi cho rằng, suy luận Tiên Thiên tròn-Hậu Thiên vuông có cơ sở đứng vững hơn Hà Đồ tròn-Lạc Thư vuông.

20. 18-16 hay Khảm chủ tế, vòng vận động uyên nguyên Đất Nước:

Kinh Dịch Trung Hoa không hề chỉ ra nguyên do nào họ chọn Khảm làm phương vị chủ tế. Trong khi như đã phân tích trên Nước là một thành phần không thể thiếu được trong đời sống của người Diệc. Sự sùng bái số 18=Thuần Khảm của cư dân Diệc đã chứng minh điều đó. Lại có câu hỏi: “Nếu như trong triết thuyết Dịch, đồ hình Hậu Thiên là đồ hình trên, vậy có quốc gia nào đặt vòng vận động uyên nguyên bằng tên của một số quái nào đó không?”. Câu hỏi khá quan trọng, bởi vì nếu quốc gia đó không có cổ vật gì dính dáng đến Dịch thì cũng đặt các nhà khoa học một bài toán liên tưởng về một triết thuyết chung cho mọi dân tộc. Còn nếu như quốc gia đó có nhiều cổ vật dính dáng đến Dịch thì phải đặt lại câu hỏi: Có phải chăng Dịch xuất phát từ quốc gia này? Hỏi tức là trả lời: Có, có một dân tộc như thế. Đó là dân tộc Việt Nam. Người Việt Nam gọi quốc gia là Đất Nước, và vì cũng có thể gọi là Nước nên trong cụm từ trên Nước đóng vai trò chính còn Đất đóng vai trò thứ. Vâng, dân tộc ta đã lấy hai quái của Hậu Thiên để gọi vùng lãnh thổ sinh sống của mình-vùng mà mọi việc Hậu Thiên sẽ xảy ra. Đáng lý vòng uyên nguyên đó phải bắt đầu từ Trời (Càn) và Đất (Khôn). Thế nhưng theo chúng tôi, nếu lấy Trời làm cái bắt đầu của một Nghi Hậu Thiên sẽ dẫn đến hiểu lầm và trái nghịch với nghĩa Hậu Thiên thuần tuý. Hơn nữa, Trời-Càn thì ở xa khó nắm bắt, khó cảm nhận. Vì thế, người Việt cổ đã lấy Khảm-Nước làm đại diện cho phần Trời của Hậu Thiên và Khôn-Đất làm đại diện cho phần Đất của Hậu Thiên. Và điều này không phải lý luận suông: Khi ký hiệu Hậu Thiên bằng Hà Đồ chúng ta thấy ở phương vị 1 là Khảm thì đối nó phương vị 7 phải là Ly, còn số 2 phải bằng 5-5=0=Khôn. Rõ ràng quan niệm Đất Nước trùng khớp hoàn toàn với Hà Đồ: Khảm nằm ở phương vị số lẻ đầu tiên còn Khôn nằm ở phương vị số chẵn đầu tiên. Theo chúng tôi, chính vì sự am hiểu kinh Dịch của cư dân Việt mà họ đã gọi nơi mình sinh sống, đánh bắt, tế thần, nhảy múa, xem sao ngắm trăng là Đất Nước. Đưa Đất Nước vào trong quá trình nghiên cứu Kinh Dịch, chúng tôi muốn khẳng định rằng, tuy đây là bằng chứng nhỏ nhoi nhưng lại là bằng chứng vô cùng quý giá để chứng minh Kinh Dịch là phát minh của người Việt Nam.

<< Trở lại Mục lục Đọc tiếp >>>

Chuyên mục:Lịch sử
  1. Chưa có phản hồi.
  1. No trackbacks yet.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: