Trang chủ > Truyền thuyết > Tiền, Hậu Lý Nam Đế Và Triệu Việt Vương

Tiền, Hậu Lý Nam Đế Và Triệu Việt Vương

Thời nhà Lương đô hộ nước ta (502 – 540) khi Tiêu Tư sang làm Thức sử, y đã thi hành chính sách tận thu vô cùng hà khắc tàn bạo, làm cho dân tình điêu đứng, lòng người oán hận.

Ở huyện Thái Bình (thời ấy đơn vị huyện bằng cả tỉnh bây giờ) có Lý Bí vốn nhà nối đời làm hào trưởng, tiếng tăm lừng lẫy khắp vùng. Đai Việt sử ký toàn thư ghi rằng tổ tiên của Ngài là người phương Bắc, là dân chạy loạn sang đây từ thời Tây Hán, rồi sinh con đẻ cái, lập nghiệp ở Thái Bình. Nhưng cũng trang ấy, sách ấy lại ghi tiếp “được bảy đời thì thành người Nam”.


Câu chuyện truy nguồn gốc lai lịch như vậy kể ra cũng là tỉ mỉ, chu đáo, nhưng thực ra cũng không cần thiết lắm. Đến bảy đời thì dòng máu đã pha trộn, lại tiếng nói, phong tục, tập quán, đến suy nghĩ và cung cách làm ăn sinh sống … cũng là người bản xứ rồi.

Vả lại, quan quân nhà Lương sang cai trị, thực tế cũng đã coi Ngài như một người bị đô hộ, không khác gì những người bản xứ khác. Câu ghi tiếp của Đại Việt sử ký toàn thư như vậy cũng là xác đáng.

Lý Bí là người có nhiều tài năng và chí khí hơn người. Từ văn chương chữ nghĩa cho đến côn quyền cung kiếm, Ngài đều thông tỏ. Tính tình của Ngài lại quảng bác, độ lượng, nên bạn bè xa gần đều rất mến mộ.

Thấy bọn quan lại nhà Lương chỉ chăm vơ vét bóc lột của nả để mang về nước, còn mọi nỗi khổ nhục thì đè lên đầu lên cổ dân chúng, và các tầng lớp xã hội khác cũng đều bị chúng khinh rẻ, nên Ngài đã nuôi saÜn ý định liên kết với các anh hùng hào kiệt, để chờ khi thời cơ đến là khởi sự, đánh đuổi chúng đi.

Từ nhiều đời trước, chính sách cai trị của phương Bắc đại đế là cử một viên Thái thú hoặc Thứ sử đứng đầu, cùng với bộ máy cai trị và quân đội, kéo sang. Viên Thứ sử cũng là tổng chỉ huy quân đội này đóng ở thành Long Biên (nay là vùng gần thị xã Bắc Ninh) cắt đặt người của chúng vào các chức vụ ở quận, huyện, châu. Quân đội cũng được chia ra, phần lớn tập trung ở quận và các nơi trọng yếu, số còn lại thì đến các huyện, châu.

Một số người bản xứ cũng được tham gia vào bộ máy cai trị đó, nhưng tất nhiên chỉ là những cấp bậc thấp và tại các địa phương. Ở đây, một mặt là do chúng thiếu người, nhưng mặt khác là chính sách lừa mị, dùng người Việt trị người Việt của kẻ xâm lược.

Cũng như nhiều hào trưởng bản xứ lúc bấy giờ, Lý Bí được nhận một chức quan nhỏ tại địa phương. Nhận thấy Ngài là người tài giỏi, lại có uy tín, nếu để lâu tất không có lợi, nên Thứ sử Tiêu Tư đưa Ngài vào tận châu Cửu Đức (nay huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh) làm chức giám quân.

Ở làng của Ngài ở Thái Bình, có môït người bạn từ hồi còn nhỏ là Tinh Thiều rất hay chữ và có chí tiến thủ. Tinh Thiều ngày đêm miệt mài đèn sách, những mong có dịp đến Kinh đô nhà Lương thi tài, rồi được hiển đạt như Lý Cầm, Lý Tiến ở tờii nhà Hán. Lý Cầm, Lý Tiến trước kia là người bản xứ, học hành giỏi giang đỗ đạt rồi làm quan bên Tàu, vẫn được dùng làm miếng mồi nhử mà các viên quan cai trị đời sau, dến khi Giao châu, thường tung ra để mê hoặc giới trí thức và quan lại người bản xứ.

Sau khi chữ nghĩa đã “chứa đầy bụng” rồi, theo lời “khích lệ” của huyện lệnh trưởng Thái Bình, và sau đó là của Thứ sử Tiêu Tư, Tinh Thiều liền khăn gói lên đường, đến tận Kinh đô nhà Lương để được tiến cử.

Nào ngờ công lặn lội đường xa,lại mệt mỏi đói khát dã hóa thnàh công cóc! Lại bôï thượng thư lúc bấy giờ là Sái Tôn, khi thử văn tài của Tinh Thiều thì niềm nở, luôn khen miệng “Hay!” hoặc “Khá”, nhưng hôm sau, khi gọi đến để bổ nhiệm, trì trở mặt lạnh lùng mà mỉa rằng:

– Ta xem họ Tinh nhà ngươi xưa nay chưa có ai tài giỏi được làm quan cả. Tài của nhà ngươi ở đất Trung nguyên này xe chở đấu đong không thiếu. Nhưng ta thương tình nhà ngươi đường xa công khó đến đây, vậy ta ban cho chức môn lang ở thành Quảng Dương, cầm giấy nàu ngày mai đến đấy mà nhận.

Tinh Thiều nghe mà không tin ở tai mình. Máu dồn lên mặt, hai má đỏ bừng. Bao nhiêu công phu đèn sách vất vả lặên lội đến đây để làm thằng canh cổng và chạy việc sai vặt ư? Quân lừa phỉnh, lũ đểu giả, sỉ nhục người ta tàn tệ đến thế là cùng!

Ngày hôm sau, Tinh Thiều lẳng lặng ra về, giận đến tím ruột bầm gan và nung nấu ý chí sẽ có ngày “ăn miếng trả miếng” với bọn quan quân đô hộ.

Tinh Thiều về quê, nhưng lúc ấy Lý Bí đã vào châu Cửu Đức. Tìm vào đến tận nơi, Tinh Thiều gặêp lại Lý Bí rồi lại ở đấy cùng Lý Bí bàn tính công việc và chuẩn bị lực lượng khởi nghĩa.

Dưới danh nghĩa tuyển mộ thêm binh lính – một trong công việc mà Lý Bí vẫn thường làm, hai người đã liên hệ rồi tập hợp được những người võ nghệ cao cường lại cùng chí hướng, về châu lỵ. Khi đã đủ lực lượng, trong đêm tối, theo lêïnh của Lý Bí, các vị hảo hán tấn công bất ngờ. Viên quan trị nhậm cùng bộ hạ người Lương trở tay không kịp, bị giết ngay tại trâïn.

Thanh thế của nghĩa quân mỗi ngày mỗ lớn. Chỉ trong vòng một tuần, các châu mục xung quanh đã kéo về nhiệt liệt hưởng ứng. Quân số đông tới hàng vạn. Mọi người đồng ý tôn phù Lý Bí lên làm chủ tướng.

Từ Cửu Đức, Lý Bí chia quân đi đánh các ngả. Cả vùng đất phía nam thuộc hai quận Cửu Chân và Nhật Nam (trước kia) về tay nghĩa quân.

Từ phía nam, Lý Bí kéo đại binh ra Bắc. Ở huyện Chu Diên (thuộc vùng Phả Lại ngày nay) có vị tù trưởng là Triệu Túc, vốn cũng là người hào kiệt, lại nghe danh biết tài của Lý Bí từ lâu, đã đem toàn bộ binh trong địa hạt của mình cai quản, đến hợp với quân của Lý Bí để đánh Long Biên (vùng thị xã Bắc Ninh).

Bấy lâu, do chỉ lo vơ vét bóc lột cho thật nhiều, mà đến nỗi để trễ nãi việc binh, nên khi nhận được tin cấp báo quân của Lý Bí dang tiến đến gần, Thứ sử Giao Châu Tiêu Tư sợ quá, chỉ còn cách thu gom của cải cho vào hòm siiểng, rồi tống vội lên xe, chuồn thẳng về Quảng Châu …

Lại sợ chạy không kịp, Tiêu Tư bèn cho một tốp lính chở một số vàng bạc ngược đường đến gặp Lý Bí, để “xin Ngài tha tội”. Đó là mưu mẹo trí trá của Tiêu Tư hòng đánh lạc hướng nghĩa quân, nhưng đó cũng còn là một việc làm vô tiền khoáng hậu của quân xâm lược trên đất Đại Việt.

Lý Bí cùng tướng sĩ vào thành Long Biên, không phí một mũi tên nào. Sự việc đó xảy ra vào năm 541 và đã kết thúc một thời kỳ dài 314 năm (227 – 540) nước ta thuộc Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương.

Ở trong thành Long Biên, Lý Bí củng cố lực lượng và ổn định tình hình, bởi Ngài vàmọi người đều hiểu rằng quân Lưong nhất định sẽ kéo sang.

Quả vậy, ngay năm sau vua Lương sai Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng dẫn quân sang xâm chiếm. Quýnh, Hùng lấy cớ mùa xuân chướng khí đang bốc, xin đợi đến mùa thu, nhưng Thứ sử Quảng Châu và Tiêu Tư cũng đang ở đấy, giục phải lên đường ngay. Bọn Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng đành phải thúc lính đi, nhưng mới đến Hợp Phố thì đội quân đã tan rã, phần vì đau ốm, phần vì tâm lý bọn lính đều sợ phải bỏ xác ở Giao Châu, nên trốn biệt. Quýnh và Hùng bị vua Lương bắt uống thuốc độc tự tử.

Bọn thống trị phương Bắc vốn thâm hiểm, từ trước đến đây và từ đây về sau, mỗi khi định đánh ĐaÏi Việt thì bao giờ cũng tìm cách xúi giục Chiêm Thành mang quân ra trợ chiến, để đánh từ hai phía.

Đầu mùa hạ năm 543 quân Lâm Ấp (Chiêm Thành) vào cướp đất Nhật Nam. Lý Bí sai Lý Phục Nam, Phạm Tu vào đánh tan chúng ở Cửu Đức. Quân Lâm Ấp phải rút chạy về nước.

Đất nước thái bình, ở hai đầu giặc gi4 đều tan. Đặc biệt tin quân Lương chưa đến biên giới đã vỡ, làm cho dân tình trong nước hết sức hào hứng phấn khởi, lòng tự tôn dâng tộc dâng cao.

Thể theo nguyện vọng của mọi người, Lý Bí lên ngôi Hoàng đế vào đầu mùa xuân năm 544. Ở phương Bắc có Đế, vậy phương Nam ta cũng phải có Đế.

Ngài xưng là Nam Việt Đế với ý thức từ nay nêu gương cho các đời sau, rồi làm lễ đăng quang, đặt niên hiệu là Thiên Đức (nghĩa là Đức của Trời) và đặt tước hiệu cho các quan.

Quốc hiệu (tên nước) Ngài lấy là Vạn Xuân, ý muốn mong cho xã tắc từ nay lưu truyền đếnmuôn thuở. Rồi cho dựng điện Vạn Thọ để làm nơi triều hội. Ngài phong Lý Phục Man làm Thái úy, Triệu Túc làm Thái phó, Tinh Thiều làm tướng văn, Phạm Tu làm tướng võ …

Sau khi giết Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng, vua Lương lại càng tức giận khi hay ting ở Giao Châu, Lý Bí đã cưng “Đế”.

Tháng 6 – 545 vua Lương phong Dương Thiêu làm Thứ sử Giao Châu, Trần Bá Tiên làm Tư mã, mang đại binh đi đánh nước Vạn Xuân. Lại sai Thứ sử Định Châu là Tiêu Bột đem quân trợ chiến, đến hội với quân trợ chiến, đến hội với quân của Thiêu, Tiên cở Giang Tây. Tiêu Bột lo sợ tìm cách thoái thác, Dương Thiêu cũng ngần ngại, chỉ có Trần Bá Tiên muốn lập công, nên hùng hổ dẫn đại binh đi.

Hay tin, Lý Nam Đế dẫn các tướng cùng ba vạn quân đi chặn quân Trần Bá Tiên ở mạn Phả Lại. Thủy binh của Trần Bá Tiên đã được huấn luyện nên rất thiện chiến, khiến cho quân Lý Nam Đế chặn không được, phải rút về sông Cái mạn của sông Tô Lịch (sau là chỗ xây thành Đại La), rồi lại rút vào thành Gia Ninh, cố thủ. Quân Lương đuổi theo vây thành.

Đầu năm sau (546) Trần Bá Tiên đánh được thành Gia Ninh. Lý Nam Đế rút quân vào đất của người Lạo ở Tân Xương.

Điều suy nghĩ và lo lắng của Lý Nam Đế cùng các tướng không phải ở chỗ quân ta ít và thiếu dũng cảm. Trái lại, quân ta không ít và dũng cảm có thừa, nhưng lực lượng của quân ta quả thực còn yếu và mỏng manh, không đáp ứng được các trận thủy chiến. Sự hành quân chậm chạp của bộ binh không thể cứu kịp thời những nơi chiến sự xảy ra gay go ác liệt.

Để bổ túc cho khiếm khuyết này, ở Tân Xương, Lý Nam Đế cho đóng mới rất nhiều thuyền bè rồi cho tập trung ở hồ Điển Triệt (Lập Thạch, Vĩnh Phú) để chuẩn bị phản công.

Lúc ấy đang là mùa mưa, nước sông Cái dâng cao, tràn cả vào hồ Điển Triệt (Lập Thạch, Vĩnh Phú) để chuẩn bị phản công.

Lúc ấy đang là mùa mưa, nước sông Cái dâng cao, tràn cả vào hồ Điển Triệt. Trần Bá Tiên cho rằng quân Vạn Xuân vừa thua mấy trâïn bây giờ mới tập họp thêm, lại có nhiều người di, lạo (thiểu số), nên cần phải đánh gấp. Lợi dụng đêm tối, lại thuận dòng nước, y dốc toàn bộ thủy binh tiến vào quyết liều một trận.

Quả nhiên, y đã tính không lầm. Lý Nam Đế bị bất ngờ, thế trận bị tan vỡ, phải lui quân sâu vào trong độngKhuất Lạo. Tại đây nhà vua lại tiếp tục củng cố lực lượng, rồi giao cho Triệu Quang Phục dẫn thủy binh đi đánh Trần Bá Tiên.

Số còn lại trong động Khuất Lạo phần lớn là người thiểu số (di, lạo) do Thái úy Lý Phục Man đảm trách, cùng với nhà vua.

Tiếc thay, giữa lúc vận nước đang “bĩ” thì nhà vua đau yếu, do nỗi ngày đêm lo lắng, lại nhiễm phải lam chướng nơi rừng thiêng nước độc, nên Nài đã qua đời (548) để lại một sự nghiệp hãy còn dang dở.

Tuy nhiên, những gì mà Ngài xây dựng được, vẫn còn nguyên giá trị từ đó đến nay. Đó là tinh thần độc lập, ý thức tự cường và một ý chí kên trinh “Thua keo này sẽ lập tức bày keo khác”.

Tuy Ngài không còn, nhưng Triệu Quang Phục, người mà Ngài ủy thác, sẽ tiếp tục sự nghiệp của Ngài, cho đến khi hoàn toàn thắng lợi.

Triệu Quang Phục, con của Thái phó Triệu Túc, là một tướng trẻ có nhiều tài năng và đảm lược hơn người. Từ nhỏ ở quê hương đã quen sông nước, lớn lên lại cùng cha theo phò Lý Nam Đế, Ngài đã lập nhiều chiến công hiển hách. Là một người rất mực trung tín và độ lượng, nên Ngài được quân lính hết sức tin yêu. Khi lên ngôi, Lý Nam Đế đã phong cho Ngài làm Đại tướng, chức Tả tướng quân. Khi ở động Khuất Lạo, nhà vua lại trao cho Ngài toàn bộ thủy binh, nghĩa là toàn bộ lực lượng tinh nhuệ lúc ấy, để đánh Trần Bá Tiên, tức cũng là một cách “chọn mặt gửi vàng”, tin tưởng tuyệt đối.

Là vị tướng thiện chiến, Triệu Quang Phục hiểu rất rõ địa hình địa vật ở miền Chu Diên, là nơi quê hương Ngài.

Sau nhiều trận dàn quân đánh nhau với Trần Bá Tiên không phân thắng bại, Ngài nhận thấy quân ta có phần núng thế cì quân của Bá Tiên đông hơn. Để bảo toàn lực lượng, Ngài rút toàn bộ hai vạn quân về đầm Dạ Trạch, để giữ thế phòng ngự.

Đầm Dạ Trạch hồi ấy là một hồ nước mênh mang, xung quanh cây cối lau sậy um tùm, rậm rạp mọc lên từ mặt bùn lầy, nhưng ở giữa, nhưng ở giữa lại có một cồn đất cao ráo có thể ở được. Xe ngựa không thể vào đây, chỉ có thể dùng thuyền độc mộc bằng sào thì mới đến được. Đường đi lối lại vừa như có lại vừa như không, nên chỉ những ai thông thuộc mới không bị lạc. Nếu không may, lỡ rơi ra khỏi thuyền, thì lập tức sẽ bị rắn độc cắn chết.

Triệu Quang Phục là người vùng này nên chẳng lạ gì đường đất Dạ Trạch. Ngài cho quân lính dùng thuyền tiến sâu vào đầm, đến ở tại bãi Tự nhiên giữa đầm. Ngài đề ra kỷ luật rất nghiêm: Ban ngày không để lộ dấu vết nào là có người ơ.û Phải dùng củi khô để nấu cho đỡ khói, và nếu có khói thì phải lấy quạt , quạt luôn tay, do bị khuất rừng cây, sẽ không thể khám phá ra khói được. Còn mỗi khi ra vào khu vực đầm, là phải lập tức quay lại, khéo léo xóa dấu vết, không cho quân giặc khám phá.

Như thế mà suốt thời kỳ quân ta ở đây, Trần Bá Tiên cho quân đi sục sạo nhiều lần mà cũng chẳng khám phá được gì. Chúng chỉ thấy ban đêm, không hiểu quân ta từ đâu tới, xông vào các doanh trại, hết trại này đến trại khác, giết hoặc bắt sống quân lính và lấy hết lương thực của chúng mang đi.

Trần Bá Tiên và quân lính hết sức hoang mang. Còn bên phía ta, quân và dân đều vui mừng phấn khởi. Mọi người yêu mến gọi Triệu Quang Phục là Dạ Trạch Vương và truyền nhau kể câu chuyện Ngài được gặp hai vị Thánh bất tử là Tiên Dung và Chử Đồng Tử, vốn ngày xưa xây dựng lâu đài thành quách ở đây, để lại nền đất cũ (bài tự nhiên) và cả vùng đầm Dạ. Trạch này. Hai vị thánh tuy về trời trời nhưng từ đấy vẫn hiể linh, giúp đở anh hùng hào kiệt trong nước, mỗi khi họ gian khó xây dựng cơ nghiệp buổi đầu. Nhận thấy Triệu Quang Phục là người hiền tài, có chí đuổi giặc cứu nước, Tiên Dung – Chử Đồng Tử hiện về, trao cho Ngài một chiếc vuốt rồng mà bảo ” Tướng quân hãy cài giặc lên mũ đâu nâu, tất sẽ diệt được giaÜcđa hồn vía lên mây, rung lên cầm cập, không còn dám quay đầu lại giao chiến. Năm 550, vua lương thăng chức cho Trần Bá Tiên để cổ vũ y, nhưng sau đó gọi y về để dẹp loạn Hầu cảnh trong nước. Quân quyền ở Giao Châu ủy cho Dương Sằn, vốn là tướng tâm phúc của bà tiên. Cũng mai cho Bá Tiên. bởi nếu không y sẽ chết, vì lúc này lực lượng của Triệu Quang Phục đốc sức toàn bộ lực lượng của triệu quang phục đã phát triển rất mạnh. Hay tin bbên bà Lương đang có biến, Triệu quang phục đốc xuất toàn bộ lực lượng từ đầm Dạ Trạch ra, tiếng đánh Dương sằn. Dương sằn đâu phải là đối thủ cuả Triệu Quang Phục! Vừa trông thấy dáng vẻ hùng dũng uy nghi của Ngài, y đã kinh hồn bạt vía quay đầu ngựa. Nhưng chạy đi đâu cho thoát? Triệu Quang Phục ngay lập tức đã phóng ngựa tới sát bên, tay đưa một nhát dao, Dương Sằn chết ngay tại trận. Quân ta ào ạt xông lên đuổi theo đám loạn quân Lương đang chạy thục mạng.

Thắng trận, Triệu Quang Phục dẫn tướng sĩ vào thành Long Biên. Từ hai năm trước, Ngài đã hay tin Lý Nam Đế lâm bệnh mất ở động Khuất Lạo, lại không có con nối dõi, nên Ngài bèn xưng Vương, gọi là Triệu Việt Vương.

Tạm thời Triệu Việt Vương đóng đô ở Long Biên, nhưng sau đó Ngài dời sang Vũ Ninh (thuộc Quế Võ, Hà Bắc).

Sự việc Triệu Quang Phục, sau khi đánh đuổi xong quân Lương, chỉ xưng “vương” chứ không xưng “đế”, bấy lâu chưa thấy ai giải thích. Phải chăng Ngài cho rằng, dẫu là “vương” hay “đế” thì cũng đều là vua cả, nhưng vì thế lực chưa đủ mạnh, nên không nên để phương bắc tự ái, hay Ngài còn nghĩ, dẫu sao mình cũng là tướng được ủy quyền chống giặc của Lý Nam Đế, nên chỉ lo làm tròn bổn phận, còn việc lên ngôi chẳng qua chỉ là do bất đắc dĩ mà thôi?

Dẫu sao mặc lòng, tuy không tự tôn xưng như Lý Nam Đế, nhưng thực tế Ngài cũng đã là người kế vị xứng đáng, và phải chăng điều ấy nói lên rằng Ngài là người trung tín và rất mực khiêm nhường, mặc dù Ngài là vị tướng thao lược, có công lớn nhất đã đánh đuổi giặc ngoại xâm lúc bấy giờ?

Và những phẩm chất của Ngài lại đặc biệt sáng giá khi ta đem so sánh với Lý Phật Tử, tức hậu Lý Nam Đế, là một kẻ tham lam đầy tham vọng và phản trắc …

Khi Lý Nam Đế chạy sâu vào động Khuất Lạo để củng cố lực lượng thì một cánh quân khác rất đông, đến ba vạn người, do lý Thiên Bảo, anh ruột Lý Nam Đế chỉ huy, chạy vào giữ đất Cửu Chân. Trần Bá Tiên phái tướng dưới quyền đuổi theo đánh, Lý Thiên Bảo chống cự bị thua mất già nữa quân số, phải chạy sang động Dã Năng, là phần đất thuộc địa phận nước Ai Lao (Lào).

Dưới quyền Lý Thiên Bảo bấy giờ có người cùng họ làm tướng, tên gọi Lý Phật Tử. Ở đất Dã Năng, Lý Thiên Bảo xây thành đắp lũy, hùng cứ một vùng, xưng là Đào Lang Vương, có Lý Phật Tử giúp sức.

Năm 555 Đào Lang Vương lâm bệnh mất ở Dã Năng. Lý Phật Tử nối quyền.

Nghĩ mình bây giờ mới là người kế vị chính thống, vì Lý Nam Đế và Lý Thiên Bảo đều mất, lại không có con nối dõi, nên Lý Phật Tử nhổ trại, đem quân tiến về vùng Thái Bình là quê hương cũ, đánh đuổi quan quân trị nhậm của Triệu Việt Vương. Triệu Việt Vương đem quân đi đánh, qua 5 trận, bên Lý Phật Tử túng thế, phải xin giảng hòa.

Triệt Việt Vương nghĩ Phật Tử là người cùng họ của Lý Nam Đế, dẫu sao thì cũng nể tình cũ, bèn chấp nhận, rồi chia cho phần đất phía tây của Nước, còn mình vẫn ở phía đông, ranh giới là bãi Quần Thần (nay là xã Thượng Cát, Hạ Cát thuộc huyện Từ Liêm, Hà Nội).

Lý Phật Tử dời đến đống đô tại thành Ô Diên (xã Hạ Mỗ, Từ Liêm), còn Triệu Việt Vương vẫn đóng ở Vũ Ninh (Quế Võ, Hà Bắc).

Lý Phật Tử có một người con trai tên gọi là Nhã Lang, còn Triệu Việt Vương có một người con gái tên gọi Cảo Nương. Cả hai đã ở độ tuổi dựng vợ gã chồng. Cái mẹo của Triệu Đà xưa kia, dùng con trai gửi rể để làm gián điệp, sau đánh chiếm lấy nước Âu Lạc của An Dương Vương, được Lý Phật Tử đem ra áp dụng.

Phật Tử thừa biết Triệu Việt Vương là người độ lượng trung tín lại khoan hòa, nên rất dễ mắc vào mẹo này. Ấy là cái mẹo của những kẻ lừa lọc phản trắc, những kẻ chỉ biết lấy oán trả ân, và những kẻ có tâm địa độc ác, luôn luôn dùng cái vẻ thơn thớt bề ngoài để che đậy.

Phật Tử cử đại thần cùng con trai mang lễ vật rất hậu đến ra mắt Triệu Việt Vương để xin làm thông gia, cho Nhã Lang sánh duyên cùng Cảo Nương. Triệu Việt Vương chấp nhận, nghĩ rằng hai nước hòa hiếu sẽ tránh được nạn binh đao, dân chúng, do vậy cũng được yên ổn mà làm ăn sinh sống.

Hồi ấy, phong tục tập quán của nước ta vẫn còn tục gửi rể (bây giờ ở một số dân tộc thiểu số vẫn còn tục lệ này), cho nên sau lễ thành hôn, đương nhiên Nhã Lang sẽ ở lại làm phò mã trong triều đình của Triệu Việt Vương.

Trong những tháng đầu năm đầu, tình yêu của nàng công chúa với chàng phò mã cũng chan chứa nồng đượm, chẳng khác nào Mỵ Châu, Trọng Thủy trước kia. Và cũng như Mỵ Châu, Trọng Thủy, tình yêu của Cảo Nương là ngây thơ, chân thực, còn của Nhã Lang thì chỉ là bề ngoài, giả tạo.

Khi nhận thấy Cảo Nương đã thương yêu mình hết lòng, đến mức không còn đề phòng gì nửa, thì Nhã lang bảo cảo Nương dẫn tới các nơi trọng yếu như kho tàng, chỗ đóng doanh trại của quân đội …, lấy cớ đi dạo chơi cho biết. Triệu Việt Vương do hết sức thương yêu và nuông chiều con gái, thấy thế cũng chẳng nhắc nhở điều gì. Thế là, chỉ mấy tháng sau, mọi đường đi lối lại trong thành Vũ Ninh cùng thực lực trong thành thế nào, Nhã Lang đều đã nắm rõ và có thể ghi chép , họa lại thành bản đồ được.

Tiến thêm một bước nữa, Nhã Lang hỏi Cảo Nương rằng vua cha (tức triệu Việt Vương) có pháp thuật gì mà đánh quân Lương tài tình đến thế? Cảo Nương thật lòng kể lại là vua cha có “vuốt rồng cài lên mũ đâu mâu”, rồi lén đi lấy cho Nhã Lang xem. Nhã Lang ngắm nghía, suýt xoa, rồi thừa lúc Cảo Nương đi ra ngoài lâu, đã lấy chiếc vuốt giả thay lấy vuốt thật. Khi Cảo Nương quay lại rồi đi cất mũ, đã hoàn toàn không hay biết gì.

Cả Triệu Việt Vương và triều đình Vũ Ninh cũng không ai hay biết điều gì, bao gồm tất cả mọi việc làm của Nhã Lang và dã tâm mà hai cha con y đang ráo riết theo đuổi.

Sau mấy năm điều tra hết nội tình và pháp thuật của triều đình Vũ ninh, Nhã Lang lên đường về nước, lấy cớ là lâu ngày chưa về thăm nhà. Lớit âu trình của y được Triệu Việt Vương chấp thuận ngay vì nó thật hợp tình. Nhà vua lại ban cho Nhã Lang rất nhiều tặng vật quý để về làm quà biếu thông gia, như phong tục tốt đẹp từ lâu đời vẫn thế. Khi vào từ biệt vợ để lên đường, Nhã Lang tặng nàng một chiếc áo lông ngỗng, nói là mùa đông đã đến mà ở một mình thì lạnh lẽo, rồi y nói thêm:

– Nếu chẳng may có sự gì xảy ra, đi đến đâu nàng cũng nhỗ một chiếc lông trên áo nvứt xuống, để tôi còn biết dấu vết mà tìm.

Cảo Nương bùi ngùi, hai tay nân mê chiếc áo, hoàn toàn chẳng đoán được thâm ý của Nhã Lang qua lời dặn dò này. Nàng chỉ gật gật đầu, rồi tự nhiên, hai mắt nhòa đẫm lệ …

Về đến nhà, Nhã Lang đem hết mọi chuyện đã biết ở triều đình Vũ Ninh nói lại cho Lý Phật Tử. Phật Tử cả mừng, hết lời khen ngợi đứa con chí hiếu đã biết nghe lời cha (!). Khi giở đến tặng vật mà Triệu Việt Vương đã biếu, Lý Phật Tử cười tít mắt. Vàng bạc châu báu thì ông ta chẳng thiếu thứ gì, nhưng ông ta cười là vì Triệu Việt Vương tài ba lỗi lạc mà sao lại vô tâm đến như vậy!

Sau mấy năm vẫn giữ hòa hiếu để che mắt Triệu Việt Vương nhằm chuẩn bị thêm lực lượng, rồi đến một ngày, hai cha con Lý Phật Tử bí mật hành binh tiến đánh Triệu Việt Vương. Khi quân của Lý Phật Tử tiến vào biên giới, Triệu Việt Vương cả giận, vội điểm binh mã ra đối địch. Vẫn hùng dũng như xưa, ngồi trên mình ngựa, đầu đội mũ đâu mâu, aty xách đại đao, Triệu Việt Vương đứng dưới cờ thách thức hai cha con Lý Phạt Tử ra đấu. Nưng cha con Lý Phật Tử hèn nhát đâu dám ra! Chỉ có mấy viên tướng trẻ hùng hổ cầm vũ khí xông tới. Trận đấu diễn ra quyết liệt. Thật đáng tiếc cho Triệu Việt Vương, bây giờ vuốt rồng trên mũ đầu mâu chỉ còn là vuốt giả, nên sức lực của Ngài đã không còn được như xưa.

Bây giờ càng đánh sức lực của Ngài càng suy giảm chứ không phải càng đánh càng mạnh như hồi chống quân Lương!

Ngó thấy ba mặt, quân của Lý Phâït Tử đang trùng trùng kéo đến bao vây mà trong khi đó quân của Ngài rõ ràng là thua kém về số lượng (do mấy năm Lý Phật Tử chiêu tập binh mã rất nhiều, còn Ngài thì vẫn giữ nguyên quân số) nên Ngài gạt một đường đao rồi quay ngựa, hét bảo tướng sĩ lui binh.

Quân của Triệu Việt Vương chạy vào thành Vũ Ninh xong thì chốt ngay cánh cổng lại. Quân của Lý Phật Tử bao vây bên ngoài. Hai bên cầm cự nhau có đến cả tháng trời. Nhã Lang dâng kế với Lý Phật Tử cho y dẫn một toán quân lẻn vào thành đốt kho lương thực, vì y biết rõ mọi vị trí. Lý Phật Tử lưỡng lự bởi ông ta lúc ấy chỉ có mỗi Nhã Lang là con nối dõi, nhưng muốn phá thành thì chẳng còn cách nào khác, nên cuối cùng đành phải chấp nhận.

Lừa thời cơ đêm tối, Nhã Lang cùng tốp lính đã vào được thành, qua một con đường bí mật mà y đã biết từ trước. Nhưng ngọn lửa của y vừa đốt lên thì quân của Triệu Việt Vương từ đâu xông tới. Nhã Lang đã bị chém chết ngay tại trận. Bọn lính đi theo y cũng bị chém chết cũng không còn một mống nào. Nhưng lúc ấy ngọn lửa đã bốc lên rất cao. Những người lính của Triệu Việt Vương tức giận, ném tất cả chục cái xác vào đống lửa. Không một ai, kể cả người lính đã làm việc này, biết rằng chàng phò mã quý hóa của thành Vũ Ninh, thế là đã bị thiêu thành tro bụi!

Nhận được tin kho lương thực bị cháy Triệu Việt Vương gầm lên một tiếng, bảo tướng sĩ ngày mai mở thành quyết sống mái một trận. Mọi người có mặt lúc ấy đều hiểu rằng nhà vua chẳng còn có cách lựa chọn nào khác.

Sáng hôm sau, cổng thành vừa mở, Triệu Việt Vương nai nịt gọn gàng, ngồi trên mình ngựa có Cảo Nương khoát áo lông ngỗng ngồi ở đằng sau, cầm đại đao xông ra phá vòng vây của Lý Phật Tử. Tướng sĩ và quân lính cùng ùn ùn kéo ra theo Ngài.

Cơn giâïn đã làm cho sức lực của Trệu Việt Vương tăng lên gấp bội, mặc dù vuốt thần nay đã mất hiệu lực. Cây đại đao của Ngài khua đi đến đâu là lính của Lý Phật Tử phải dạt ra đến đấy.

Vòng vây bị phá, tướng sĩ và quân lính của Triệu Việt Vương chạy tản đi khắp nơi. Lý Phật Tử hô quân đuỏi theo, nhưng suốt một buổi chiều hôm ấy vẫn không bén gót được Triệu Việt Vương. Đêm xuống, cả hai bên đều nghỉ để sáng sớm hôm sau lại tiếp tục cuộc chạy, đuổi, và như thế, kể đã được mấy ngày đêm liền.

Triệu Việt Vương, mặc dù đã chọn được những lối đi bất ngờ, nhưng không hiểu hiểu sao, quân của Lý Phật Tử vẫn cứ laÜng ngaÜng bám theo sau. Còn những cánh quân khác, hoặc bị bắt, hoặc đều đã tìm được lối thoát rồi.

Khi chạy đến cửa biển Tiểu Nha, thấy trước mắt chỉ mặt nước mênh mông trắng xóa, ngó lại , thì thấy quân của Lý Phật Tử vẫn đang đuổi theo mỗi lúc một gần. Nhà vua bảo con gái xuống ngựa, rồi Ngài cũng nhảy xuống đến bên mép nước, chắp hai tay lại mà khấn: “Xin Long Vương hãy hiện về cứu giúp chúng con!”.

Đó là lời cầu khẩn đã được truyền lại ngay từ đời các vua Hùng, mỗi khi có ai bị gặp nạn. Khi Triệu Việt Vương vừa dứt lời, thấy rồng vàng đội nước nhô đầu lên bảo:

– Tại nhà vua quá tin vào con gái và chàng rể đó! Hãy nhìn chiếc áo lông ngỗng kia.

Triệu Việt Vương vẫy con gái lại gần, bảo nàng quay lưng lại, và Ngià không còn tin vào mắt mình nữa: Chiếc áo xơ xác, lông ngỗng đã bị bứt đi gần hết!

Ngài gầm lên: “Đồ phản bội”, rồi vung đao chém xuống, Cảo Nương gục xuống chết ngay tại chỗ.

Nhà vua nhảy lên mình ngựa, phi tiếp. Nhằm phía đông, vượt qua một cánh đồng, đến cửa Đại Nha thì Ngài vẫn chỉ thấy mặt nước mênh mông phía trước. Đang định nảy xuống ngựa để khấn vái như lần trước,thì Ngài đã thấy rồng vàng hiện ra. Rồng vàng quẫy đuôi, nước rẽ sang hai bên, và Triệu Việt Vương phóng ngựa chạy theo.Nước ở đằng sau cũng từ từ khép lại ngay …

Sự việc đó xảy ra vào mùa đông năm 570, chấm dứt 23 năm đánh giặc và trị vì đất nước của một vị tướng tài ba thao lược, nhưng đã vô tình để mất cảnh giác, đến nỗi phải sa cơ bởi dã tâm của một kẻ phản bội.

Từ trước đến nay đã có nhiều người nói đến sự giống nhau của hai tấn bi kịch An Dương Vương, Mỵ Châu và Triệu Việt Vương, Cảo Nương. Quả là lịch sử đã có sự lặp lại gần giống nhau như thế thật! Có nhà nghiên cứu bảo đây là sự lặp lại của môtíp dân gian trong truyện kể thời trước. Vâng, điều ấy, đương nhiên là đúng, không thể bác bỏ được về mặt lý thuyết. Tuy nhiên nếu ta quan sát cuộc sống, thấy rằng: Bao nhiêu mẹo lừa cũ rích mà người thời hiện đại nay vẫn còn mắc phải, thì thử ngẫm, sự giống nhau của hai tấn bi kịch kể trên cũng có gì khó hiểu đâu!

Lý Phật Tử sau khi hại xong Triệu Việt Vương bèn dẫn quân vào Vũ Ninh thu vén vàng bạc châu báu, bắt đàn bà con gái, rồi rút về Ô Diên, tự đắc lên ngôi Hoàng đế , cũng xưng là Lý Nam Đế, người đời sau gọi Lý Bí là Tiền Lý Nam Đế, còn Lý Phật Tử là hậu Lý Nam Đế.

Những ngày mới lên ngôi, tuy bề ngoài hớn hở vui tươi, nhưng bên trong thì Hậu Lý Nam Đế đau xót âm thầm vì đứa con nối dõi đã chết. Việc đầu tiên mà Hậu Lý Nam Đế làm là cho xây dựng ở thành Ô Diên (xã Hạ Mỗ, Từ Liêm) một ngôi đền đã tờ Nhã Lang, đứa con mà xác đã thành tro bụi ở thànhVũ Ninh từ mấy tháng trước.

Nhận thấy ở Ô Diên chỉ gợi lại nỗi buồn phiền làm cho lương tâm luôn luôn cắn rứt, nên Hậu Lý Nam Đế cho dời đô về Phong Châu,nơi đất Kinh đô của các vua Hùng thuở trước. Ý của Hậu Lý Nam Đế là nối lại chính thống của các vua Hùng từ xa xưa để lại, chứ Tiền Lý Nam Đế bất quá cũng chỉ là người ngang hàng với ông mà thôi.

Vị Hoàng đế không còn chút liêm sĩ này, chỉ có mỗi một tài là tài lừa lọc, đã không nhìn thấy Ô Diên (ở ngay cành thành Đại La, tức là thành Thăng Long sau này)là vị trí trung tâm để chấn hưng đất nước và phát triển quân đội (đặc biệt thủy quân) nhằm kế sách lâu dài,mà chỉ thấy trước mắt cần phải chính thống ngay tức khắc.

Quả là Hậu Lý Nam Đế đã chính thống được cái tước hiệu.Thực tế ông ta đã kéo lùi sự phát triển của đất nước lại 32 năm, tức là cả thời gian hết cha đến con trị vì.

Mặc dù lúc bấy giờ đã lớn tuổi, nhưng Hậu Lý Nam Đế vẫn mãng “đi lại” với các cung nữ. Thế rồi ông ta cũng sinh được một người con trai nữa đặt tên là Lý Sư Lợi.

Là một kẻ vô lại, nên dưới quyền Hậu Lý Nam Đế, chỉ là một lũ quan lại bất tài, vừa tham vừa ác chẳng nghĩ gì đến dân, đến nước. Cũng may, một thời gian dài phương Bắc có loạn liên miên, hết nhà Lương là đến nhà Trần ngắn ngủi, nên cha con Hậu Lý Nam Đế mới bình yên kéo dài được 32 năm (571 – 602).

Quả nhiên, nhà Tùy vừa chính vị được năm thứ nhất (602) đã cử ngay Dương Tố sang làm Tổng quản Giao Châu. Tố tiến cử Lưu Phương, người Trường An, vốn là một kẻ mềm mỏng, dẫn đại binh đi trước mở đường.

Quân Lưu Phương ùn ùn kéo sang, lúc bấy giờ Hậu Lý Nam Đế đã mất được mấy năm, và Lý Sử Lợi, cũng vẫn tự xưng là Lý Nam Đế, đang trị vì.

Vị Hậu Lý Nam Đế thứ hai này, đang trẻ người non dại, vốn chỉ quen ăn chơi hưởng lạc, nên vừa nghe tin quân giặc tới, là đã mặt xanh nanh vàng, mất hết can đảm của một người điều binh khiển tướng.

Lưu Phương đánh đến núi Đô Lương thì gặp một tốp lính nhỏ người địa phương xông ra chống cự, y cho quân dẹp được ngay, rồi tiến vào Phong Châu, đóng doanh trại ngay sát cạnh dinh của Lý Sư Lợi.

Nếu gặp phải một triều đình có sĩ khí nào khác, thì trước khi đến đây, ít nhất quân của Lưu Phương cũng phải bị sứt trán bứu đầu, đằng này Lưu Phương vẫn cứ dẫn quân lẳng lặng mà tiến, hầu như không vấp phải một sức đề kháng nào đáng kể.

Lý Sư Lợi cùng triều đình hèn nhát đã đành. Ngay cả hai người tôn thất, một là Lý Đại Quyền làm Thái Bình hầu giữ thành Long Biên, và một người nữa là đại tướng Lý Tấn Đỉnh làm An Ninh hầu giữ thành Ô Diên, ca hai viên tướng này trong tay đều cóhàng vạn quân, vậy mà vẫn ngồi yên, không đi tiếp ứng! Thật đúng là cha nào con nấy, vua nào tướng ấy, kể từ đời Lý Phật Tử, họ chỉ mang lại nỗi nhục cho dân cho nước!

Lưu Phương cho người sang tận triều đình Lý Sư Lợi để dụ hàng. Vị Hoàng đế hèn mạt cùng trăm quan vội vàng quỳ ngay xuống để nghe chếu chỉ. Thế là Hậu Lý Nam Đế thứ hai cũng chấm dứt nốt.

Lưu Phương cho quân dẫn Lý Sư Lợi về phương Bắc, rồi cho chết biệt tăm ở nơi đất khách quê người. Còn các viên tướng của triều đình Hậu Lý Nam Đế, Lưu Phương cho bắt tất cả, rồi mang ngay ra bãi chém hết!

Chắc đến lúc chết, cả Sư Lợi và các tướng đãhiểu được thế nào là lời lẽ phủ dụ của những ke chuyên đi xâm lược!

Sau khi Triệu Việt Vương đi xuống biển ở cửa Đại Nha (cũng có sách viết rằng nhà vua đã tự tử) mọi người trong vùng thương tiếc bèn lập đền thờ ở đấy để thờ Ngài.

Về sau những người họ Lý cùng chi phái của Lý Phật Tử cũng lập ở của Tiểu Nha đền thờ Hậu Lý Nam Đế.Tiểu Nha đối diện Đại Nha, codnghĩa là Hậu Lý Nam Đế đã đối mặt với Triệu Việt Vương mà song song tồn tại vậy!

Chả biết vì thần linh không cho có sự đánh lộn sòng hay do trời xui đất khiến thế nào, mà một đêm mứa gió bão bùng, sấm sét nổ ra dữ dội, sáng hôm sau thấy ngôi đền Tiểu Nha bị đánh bạt xuống sông, không còn tăm tích.

Dân làng Độc Bộ, vốn đã lập đền thờ Triệu Việt Vương ở Đại Nha, nay dựng thêm ngôi đền khác ở Tiểu Nha. Họ không thờ Hậu Lý Nam Đế như làng Phù Xa trước kia, mà thờ Ngô Nhật Khánh, một trong 12 vị xứ quân của đời sau, cách gần 400 năm.

Đại Việt sử ký toàn thư vân gọi Lý Phật Tử là vua, là đế, nhưng cũng không ngần ngại đưa ra lời bình “không bằng chó lợn” để chỉ nhhững hành vi và việc làm của vị đế này.

Ngày nay, tên cua Triệu Việt Vương và Tiền Lý Nam Đế đã được đặt cho nhiều đường phốm, trường học. Về tên của Triệu Việt Vương thì đương nhiên là rõ ràng, không có gì để bàn bạc. Nhưng tên của (Tiền) Lý Nam Đế. Phải chăng cũng nên có cách gì để phân biệt với Hậu Lý Nam Đế? Chỉ ghi là Lý Nam Đế, e có người sẽ tưởng nhầm là Hậu Lý Nam Đế (tức Lý Phật Tử) cũng được hậu thế tôn vinh, vì Lý Phật Tử cũng xưng là Lý Nam Đế, như Lý Bí.

Chuyên mục:Truyền thuyết
  1. Chưa có phản hồi.
  1. No trackbacks yet.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: